Thông tin chi tiết

  • MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THẨM TRA NHIỆM KỲ 2011 – 2016
    17:12 09/07/2018
  • Chức năng quyết định của HĐND được thực hiện chủ yếu tại kỳ họp thông qua các nghị quyết của HĐND. Việc các nghị quyết của HĐND được ban hành đảm bảo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chất lượng và tính khả thi của nghị quyết trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào việc tuân thủ chặt chẽ quy trình soạn thảo và quy trình xem xét thông qua nghị quyết. Một trong những khâu cơ bản của quy trình đó là hoạt động thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân đối với các dự thảo nghị quyết.
  • Thẩm tra là một hình thức giám sát của Ban Hội đồng nhân dân, nhằm xem xét các đề án, dự thảo nghị quyết trên các mặt như: sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của nội dung dự thảo với hệ thống pháp luật; sự phù hợp, tính đáp ứng của nội dung dự thảo với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trước khi trình HĐND, thẩm tra có ý nghĩa là căn cứ, là cơ sở, định hướng, cung cấp thông tin cần thiết cho HĐND xem xét thông qua dự thảo nghị quyết.

     I.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THẨM TRA CỦA BAN VH-XH

    Trong nhiệm kỳ qua, Ban Văn hóa – Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh đã tiến hành thẩm tra 29 dự thảo nghị quyết và các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo trình HĐND tỉnh theo phân công của Thường trực HĐND tỉnh. Qua thẩm tra, Ban đề nghị chưa trình hoặc không trình HĐND tỉnh 04 dự thảo nghị quyết vì chưa đủ cơ sở pháp lý, không phù hợp với thực tiễn, chuẩn bị chưa kỹ và được UBND tỉnh thống nhất với đề nghị của Ban gồm: Nghị quyết về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển giáo dục  và đào tạo Nghệ An giai đoạn 2012 - 2020” (sau khi chuẩn bị lại, đã trình HĐND tỉnh thông qua vào kỳ họp sau); Nghị quyết về việc ban hành một số chính sách ưu đãi nghề nghiệp đối với các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp tỉnh Nghệ An; Nghị quyết về chế độ, chính sách cho giáo viên giảng dạy các môn khoa học bằng Tiếng Anh tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Đề án "Quy hoạch hệ thống trường phổ thông chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 -2020 tầm nhìn đến năm 2025". Hoạt động thẩm tra của Ban Văn hóa - Xã hội được thực hiện đúng trình tự luật định và có nhiều đổi mới. Ban chủ động tiếp cận, tham gia với cơ quan chủ trì soạn thảo các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực Văn hóa - Xã hội trình HĐND tỉnh để nắm bắt sớm thông tin phục vụ cho công tác thẩm tra. Gửi tài liệu trước cho các đại biểu nghiên cứu; phân công nhiệm vụ cho thành viên của Ban chủ trì chuẩn bị ý kiến thẩm tra đối với từng dự thảo Nghị quyết cụ thể. Vì vậy, chất lượng thẩm tra ngày càng được nâng lên, thể hiện được bản lĩnh, chính kiến trong thẩm tra; báo cáo thẩm tra mang tính phản biện cao, cung cấp các thông tin, cơ sở pháp lý và thực tiễn, giúp đại biểu HĐND nghiên cứu để xem xét, quyết định thông qua các báo cáo, nghị quyết, góp phần nâng cao chất lượng các kỳ họp.

    Tuy nhiên, hoạt động thẩm tra của Ban Văn hóa – Xã hội còn có những hạn chế. Sự phối hợp trong hoạt động khảo sát, giám sát với thẩm tra chưa thật đầy đủ. Việc tham gia từ đầu với cơ quan soạn thảo chưa thật thường xuyên và chủ động. Việc nghiên cứu các văn bản, tài liệu, thu thập thông tin liên quan đến công tác thẩm tra các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết đôi khi chưa được sâu, toàn diện, cụ thể. Các thành viên dự phiên họp thẩm tra có khi chưa được đầy đủ theo quy định (thành viên Ban VHXH thiếu, lãnh đạo UBND tỉnh không tham dự,…). Có báo cáo thẩm tra của Ban còn dàn trải, chưa phân tích một cách sâu sắc, lập luận chưa thật đầy đủ, tính phản biện chưa cao, nhất là khi các căn cứ của đề án, dự thảo nghị quyết của UBND tỉnh, các ngành trình chưa thật sự thuyết phục. Có nghị quyết sau khi thẩm tra và được HĐND thông qua, nhưng khi triển khai thực hiện tính khả thi không cao (như Nghị quyết 95/2013/NQ-HĐND ngày 17/7/2013 của HĐND tỉnh về cơ chế hỗ trợ đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất trạm y tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013-2015, do nguồn kinh phí không đáp ứng được).

    Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: Hầu hết các thành viên Ban đều kiêm nhiệm, phải tham gia quản lý nhiều công việc về chuyên môn nên có khi tham gia thẩm tra chưa đầy đủ, ít có thời gian dành cho việc nghiên cứu, thu thập các thông tin phục vụ các hoạt động thẩm tra, vì vậy khó có thể nắm được sâu sắc, cụ thể trong lĩnh vực cần thẩm tra và những vấn đề liên quan đến công tác thẩm tra của Ban. Công tác bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, cập nhật kiến thức, pháp luật cho thành viên của Ban chưa được thường xuyên. Trong quá trình chuẩn bị, cơ quan soạn thảo có khi lấy ý kiến nhưng đưa tài liệu muộn, hoặc không lấy ý kiến của Ban trước khi trình UBND tỉnh nên Ban thiếu chủ động tham gia ngay từ đầu. Khâu chuẩn bị báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết, đề án của một số cơ quan chuyên môn có khi chất lượng chưa cao, còn sơ sài về nội dung, thiếu tính chặt chẽ, kỹ thuật văn bản chưa hoàn chỉnh; hồ sơ không đầy đủ, gửi đến chưa đảm bảo thời gian theo luật định; một số nội dung chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thiếu căn cứ pháp lý, tính khả thi, hoặc có khi chưa đúng thẩm quyền. Việc tổ chức thẩm tra phải hoàn thành trong thời gian ngắn nên không đảm bảo điều kiện để thành viên Ban nghiên cứu đầy đủ các tài liệu để tham gia ý kiến một cách sâu sắc. Cơ chế mời chuyên gia giúp Ban thẩm tra chưa thực hiện được. Đội ngũ cán bộ tham mưu, phục vụ thực hiện công tác này còn mỏng và chưa thật chuyên nghiệp.

    II. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP

    Để khắc phục những hạn chế, khó khăn trên, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra của Ban, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    1. Căn cứ Nghị quyết về chương trình ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh, Ban cần lựa chọn các nội dung liên quan lĩnh vực Văn hoá - Xã hội tiến hành khảo sát, giám sát, chủ động làm việc với các ngành, tổ chức liên quan, tổ chức tiếp xúc cử tri theo chuyên đề để thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác thẩm tra. Trường hợp nội dung đề án, dự thảo nghị quyết chưa nằm trong chương trình, nhưng được Thường trực HĐND tỉnh bổ sung xem xét tại kỳ họp và phân công Ban thẩm tra thì Ban cũng phải chủ động phân công nắm thông tin, tìm hiểu tài liệu để phục vụ thẩm tra, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và kịp phục vụ kỳ họp theo quy định.

    2. Ban phối hợp từ đầu với cơ quan soạn thảo trong quá trình chuẩn bị đề án, dự thảo nghị quyết, cùng thảo luận để thống nhất quan điểm, những vấn đề cụ thể, xử lý chặt chẽ những vấn đề kỹ thuật, bố cục văn bản, nâng cao chất lượng văn bản. Muốn vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan được Ủy ban nhân dân tỉnh phân công soạn thảo đề án, dự thảo nghị quyết tạo điều kiện để Ban tham gia ý kiến ngay từ đầu quá trình chuẩn bị và lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động của nghị quyết.

    3. Sau khi có văn bản phân công thẩm tra của Thường trực HĐND tỉnh, Ban xây dựng kế hoạch thẩm tra. Ban tập hợp các căn cứ pháp lý và các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết gửi đến các thành viên Ban trước để xem xét, nghiên cứu. Phân công cụ thể các thành viên Ban nghiên cứu sâu từng nội dung để làm nòng cốt ý kiến thẩm tra. Đồng thời tranh thủ ý kiến của Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, ý kiến các chuyên gia. Giao Văn phòng (phòng tham mưu, giúp việc trực tiếp cho Ban) chủ động khâu nối và nghiên cứu để chuẩn bị ý kiến tham mưu cho Ban.

    4. Trong quá trình thẩm tra:

    - Đối với thẩm tra các báo cáo định kỳ của UBND tỉnh (Ban thường tham gia thẩm tra báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, lĩnh vực văn hoá - xã hội), phải căn cứ vào nghị quyết HĐND tỉnh đã ban hành, tình hình KT-XH tại địa phương, thông tin từ hoạt động giám sát, báo cáo của các cơ quan chuyên môn... để xem xét những nhận định, đánh giá trong báo cáo có phản ánh đúng tình hình thực tế không? Còn những vấn đề gì chưa đề cập? Về mặt số liệu phải so sánh số liệu trong báo cáo với số liệu trong nghị quyết của HĐND đã thông qua xem tỷ lệ đạt như thế nào, số liệu đã chính xác chưa? so sánh kết quả đạt được với cùng kỳ năm trước để nhìn nhận, đánh giá khách quan về kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Mục tiêu, kế hoạch và những giải pháp thực hiện có khả thi, cần có thêm những giải pháp nào. Đây là những nội dung quan trọng để HĐND tỉnh nghiên cứu, cân nhắc xây dựng các chỉ tiêu đưa vào nghị quyết.

    - Đối với thẩm tra các đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề: Cần xem xét nội dung có đúng với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có phù hợp, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên hay không? Có đúng với thẩm quyền ban hành của HĐND hay không? có nằm trong quy hoạch tổng thể và phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH của tỉnh hay không? Các mục tiêu, giải pháp có khả thi hay không? Có tạo được sự đồng thuận trong nhân dân hay không? Để thực hiện được mục tiêu của đề án cần có thêm những giải pháp nào? Nguồn vốn huy động ở đâu? Nội dung có mâu thuẫn gì với những đề án, nghị quyết khác không?... Ngoài ra, cần xem xét cụ thể những căn cứ ban hành văn bản; thể thức văn bản đã đúng với quy định hay chưa? Ban cần dành nhiều thời gian nghe các cơ quan soạn thảo giải trình, làm rõ các nội dung, vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau và đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp thu, giải trình các kiến nghị cụ thể đối với nội dung dự thảo đã thẩm tra, đảm bảo tính thống nhất cao khi trình HĐND tỉnh tại kỳ họp. Căn cứ kết quả thẩm tra của Ban, đối với những đề án, dự thảo nghị quyết chuẩn bị chưa kỹ, tính khả thi chưa cao, Ban đề nghị UBND tỉnh chuẩn bị kỹ, đầy đủ các điều kiện mới đưa ra trình tại kỳ họp HĐND tỉnh.

    5. Cần mở rộng thành phần họp thẩm tra, trong đó có sự tham gia của Thường trực HĐND, các ban HĐND tỉnh, cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định; cơ quan, tổ chức hữu quan, … để bàn bạc, thảo luận thống nhất những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết. Cần có sự tham khảo ý kiến tư vấn từ các chuyên gia.

    6. Xây dựng Báo cáo thẩm tra cần làm rõ căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn, đánh giá sự phù hợp nội dung của dự thảo Nghị quyết với đường lối, chủ trương của Đảng và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống văn bản pháp luật, dự báo tính khả thi của nghị quyết. Nội  dung nào không đồng ý hoặc đề nghị bổ sung thì nêu lý lẽ cụ thể; đồng thời, nêu rõ những vấn đề lớn, còn ý kiến khác nhau và đề xuất phương án xử lý trình HĐND xem xét, quyết định.

    7. Nâng cao chất lượng hoạt động của các thành viên Ban:  Quan tâm bồi dưỡng nâng cao kỹ năng thẩm tra, cập nhật kịp thời kiến thức pháp luật cho thành viên của Ban. Các thành viên của Ban phải nắm vững các chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất là những văn bản mới ban hành liên quan đến lĩnh vực; các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh uỷ; nghị quyết của HĐND tỉnh để vận dụng linh hoạt vào quá trình thực hiện nhiệm vụ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của thành viên Ban, cần dành thời gian nghiên cứu trong quá trình thẩm tra báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết. Đối với những thành viên Ban công tác trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, cần phát huy hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực công tác để tham gia sâu, tránh tình trạng nể nang, né tránh.

    III. KIẾN NGHỊ

    1.Để nâng cao chất lượng đề án, dự thảo nghị quyết cần quy định sự phối hợp của cơ quan soạn thảo, thẩm định, thẩm tra tham gia vào quá trình soạn thảo các tờ trình, đề án của UBND tỉnh. Trên cơ sở đó Ban có điều kiện vào cuộc sớm, sâu hơn từ khâu chuẩn bị đề án.

    2. Cơ cấu thành viên của Ban  cần đảm bảo cân đối giữa đại biểu có trình độ nghiên cứu về cơ chế, chính sách chung với đại biểu có kiến thức sâu về lĩnh vực, chuyên ngành mà Ban phụ trách; cân đối giữa đại biểu công tác ở cấp tỉnh với đại biểu ở địa phương, cơ sở; có tính đến sự kế thừa giữa các nhiệm kỳ của HĐND tỉnh.

     3. Cần phải tạo sự chủ động cho Ban HĐND trong hoạt động thẩm tra. Để làm được việc này, Thường trực HĐND thống nhất và yêu cầu UBND tỉnh chuẩn bị, gửi tài liệu phục vụ thẩm tra đúng thời gian theo luật định, đảm bảo trình tự, thủ tục, hồ sơ thẩm tra theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời sớm phân công cụ thể nội dung cho Ban thẩm tra. Nếu không đảm bảo các điều kiện thì không tiến hành thẩm tra. Hạn chế các nội dung dự thảo nghị quyết không có trong chương trình ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh, trừ trường hợp thật cần thiết do yêu cầu thực tiễn.

    4. Cần bố trí thời gian hợp lý cho các Ban tổ chức thẩm tra về số ngày và thời điểm để Ban có thời gian triển khai, thu thập, nghiên cứu thông tin, tài liệu và viết báo cáo thẩm tra; có cơ chế mời chuyên gia giúp Ban phân tích, phản biện trong quá trình thẩm tra.

    5. Tăng cường số lượng và chất lượng của cán bộ, chuyên viên Văn phòng tham mưu phục vụ Ban trong hoạt động nói chung và trong hoạt động thẩm tra nói riêng./.

                                                  Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh

    Lượt truy cập